CHIA SẺ VỀ HỒNG ÂN THANH TẨY

Ngày hồng phúc 17.7.1971

Nhìn lại hành trình ơn gọi của mình, tôi nhận ra rằng ngày chịu phép Thanh Tẩy 17.7.1971 chính là một dấu mốc hồng phúc. Từ ngày ấy, một ước nguyện âm thầm đã được Chúa gieo vào lòng tôi: được dâng mình cho Chúa và sống trọn vẹn cho Ngài. Nhưng để ước nguyện ấy trở thành hiện thực, tôi đã phải trải qua một hành trình khá dài với nhiều thử thách, chờ đợi, cầu nguyện và phó thác.

Một ngày trước khi chịu phép Thanh Tẩy, tôi đã xin Ba cho tôi đi tu. Ba trả lời ngay:

“Con nít biết gì mà tu với tác! Mau nóng chóng nguội. Cứ lo giữ đạo cho đàng hoàng đi đã.”

  • Sáu tháng sau, sau một lần chầu Thánh Thể và cầu nguyện sốt sắng, tôi lại ngỏ lời với Ba. Lần này, Ba lập tức gọi cả gia đình, dù mọi người đã lên giường. Ba nhắc lại lời tôi xin “Ba cho con đi tu đi”.

Rồi Ba giải thích và căn dặn mọi người:

“Bên Công giáo, người ta thường đi tu từ nhỏ. Gia đình mình mới theo đạo, Ba sợ các con nông nổi, ba bảy hai mươi mốt ngày lại xin về. Các con cứ lo giữ đạo, sống đạo cho tốt là được rồi. Không ai được nói đến chuyện đi tu nữa nhé!”

Từ ngày ấy, tôi âm thầm giữ kín với Ba Má ước nguyện dâng mình cho Chúa. Tôi chỉ biết cầu nguyện và kín đáo tìm cha hướng dẫn. Tôi mua thêm những sách viết về đời tu như Nữ Tu Thánh Thiện, Một Tâm Hồn, Chị Benigna, Tôi đi tu, Tôi muốn làm chị Dòng… để đọc trong âm thầm.

Trong chín tháng, mỗi tháng tôi xin gặp cha linh hướng một lần. Suốt hai năm (1971–1973), trong lòng tôi vẫn đau đáu một khát vọng dâng mình cho Chúa. Thỉnh thoảng, vào những dịp dự lễ Khấn dòng hay lễ Thụ phong linh mục, tôi có thổ lộ với Má đôi ba lần. Má chỉ nhẹ nhàng an ủi, khuyên tôi cầu nguyện và bảo tôi thỉnh thoảng nhắc lại với Ba xem sao.

Một ngày kia, một sơ Bề trên nói với tôi:

“Năm nay em đã 21 tuổi, không còn ở tuổi vị thành niên nữa. Em hãy tự quyết định về ơn gọi của mình.”

Tôi đem điều ấy thưa lại với cha linh hướng. Cha nói rất quả quyết:

“Chúa muốn con vào dòng rồi! Con hãy quyết định: bỏ nhà đi tu thôi.”

Tôi bật khóc ngay trong tòa giải tội:

“Thưa cha, làm sao con bỏ nhà đi được?!”

Cha vẫn cương quyết:

“Con đi tu chứ con có làm điều gì xấu đâu mà con sợ?! Con hãy nhớ Lời Chúa: ‘Ai đã tra tay cầm cày thì đừng ngoái lại sau lưng!’”

Tôi ra về với lòng ngổn ngang, không biết phải quyết định thế nào. Tôi chỉ biết cầu nguyện một câu duy nhất:

“Con không biết phải làm sao hết. Nếu Chúa muốn con được làm bạn trăm năm của Chúa, xin Chúa hãy giúp con!”

Có lẽ câu cầu nguyện ấy tôi đã được hai Bà Vú đỡ đầu dạy từ trước.

Từ đó, tôi chỉ âm thầm báo cho hai Bà Vú đỡ đầu biết để các bà cầu nguyện cho việc “trốn đi tu” của tôi. Một chiếc giỏ xách lớn đựng quần áo do các ông bà đỡ đầu và các hội viên Legio của tôi sắm sẵn. Đến nay, tôi vẫn còn giữ chiếc vali và chiếc khăn tắm ấy, đã hơn năm mươi năm.

Đã nhiều lần tôi cầm giấy định viết thư để lại cho Ba Má rồi trốn đi, nhưng tôi vẫn chưa đủ can đảm. Và rồi tôi nhận ra: Chúa đã giúp tôi theo đúng lời tôi cầu xin.

Rồi Chúa đã dọn sẵn cho tôi một con đường.

Sau một lần đi dự lễ an táng, tôi thấy có bốn sơ về tham dự. Hình ảnh ấy lại khơi lên trong tôi niềm khao khát đi tu. Khi về nhà, Ba tình cờ thấy cuốn sách Tôi đi tu mà tôi bỏ quên trên giường và cầm lên đọc.

Tôi lo lắng đến mức xin các em cùng đọc kinh cầu nguyện ngay lúc ấy.

Sau đó, Ba gọi tôi vào và bắt đầu hỏi chuyện:

“Tại sao Ba đã cấm con không được nói đến chuyện đi tu mà con vẫn còn giữ ý định đó cho đến nay? Con trả lời xem sao. Nếu con trả lời được điều Ba muốn biết, Ba sẽ cho con đi tu.”

Tôi thưa với Ba:

“Thưa Ba, từ khi biết Chúa, con thấy Chúa thương con quá. Vì thế, con muốn dâng mình cho Chúa để đáp lại tình yêu Ngài dành cho con.”

Ba hỏi tôi thêm nhiều câu khác. Ba cũng khuyên tôi nên bỏ ý định đi tu để lập gia đình như những người khác, vì lúc đó cũng đã có mấy người theo đuổi tôi. Nhưng thấy ý chí của tôi không lay chuyển, cuối cùng Ba nói:

“Bây giờ Ba bằng lòng cho con đi tu, nhưng Ba không biết cho con đi tu ở đâu!”

Rồi Ba nói thêm rằng mấy năm qua, Ba vẫn âm thầm theo dõi để xem tôi có thật lòng muốn đi tu hay không. Ba đã thử tôi nhiều lần. Bây giờ Ba đã biết rõ tôi thực sự muốn dâng mình cho Chúa, nhưng Ba không biết phải xin cho tôi vào Dòng nào.

Tôi thưa:

“Thưa Ba, xong hết rồi… Con đã tìm được Dòng Chúa muốn và Dòng cũng đang muốn con vào. Con chỉ cần tự quyết định bước theo tiếng Chúa gọi.”

Sau khi Ba bằng lòng cho tôi đi tu, tôi đưa Ba đến gặp cha để trình bày và xin cha hướng dẫn. Sau cuộc gặp ấy, mọi sự dần được thu xếp. Nhà Dòng dự định ngày tôi vào là 26.12.1973, và gia đình chuẩn bị thuê hai chiếc taxi để đưa tôi lên Nhà dòng ở Thánh Mẫu. Ngày ấy, Ba Má, hai Bà Vú đỡ đầu và hai người bạn sẽ cùng tiễn tôi đi.

Tuy nhiên, từ ngày Ba bằng lòng cho tôi đi tu, Má lại buồn và khóc nhiều. Má không hề ngăn cản, nhưng vì thương con nên cứ khóc lóc, kể lể và buồn mãi. Thấy Má đau khổ kéo dài như thế, tôi rất xót xa và lo sợ Má sẽ sinh bệnh vì quá buồn.

Vì thương Má, tôi nghĩ đơn sơ rằng: nếu tôi vào Dòng sớm hơn, có lẽ ngày tôi đi Má sẽ khóc nhiều hơn, nhưng sau đó Má sẽ dần nguôi ngoai và chấp nhận. Vì thế, tôi quyết định xin vào Dòng sớm hơn ngày đã định, ngày 16.12.1973 thay vì 26.12.1973.

Và rồi ngày tôi ra đi cũng đến. Ba Má, hai Bà Vú đỡ đầu và hai người bạn cùng đưa tôi lên Nhà dòng ở Thánh Mẫu. Tôi bước vào Dòng với một tâm hồn vừa vui mừng vì được thực hiện ước nguyện dâng mình cho Chúa, vừa lưu luyến vì phải xa Ba Má và gia đình. Nhưng trong sâu thẳm, tôi tin rằng đây là con đường Chúa đã chuẩn bị cho mình.

Quả thật, điều ấy đã xảy ra.

Ngày 25.12, các sơ cho tôi về thăm gia đình. Khi về đến nhà, tôi thấy Má đã hết khóc. Từ sau lần đó, mỗi khi tôi về thăm gia đình rồi trở lại Dòng, chỉ còn tôi khóc vì thương nhớ Ba Má và các em.

Từ ngày vào Dòng đến nay, tôi chưa bao giờ buồn chán hay nản lòng đến mức muốn bỏ đời tu, dù hành trình ấy cũng có những thăng trầm. Tôi chưa một lần có ý định chuyển Dòng, dù cũng đã có những lúc thấy chị em ngả nghiêng và muốn tìm một ơn gọi khác.

Nếu hôm nay Chúa cho tôi được chọn lại, tôi vẫn chọn sống đời thánh hiến và vẫn chọn Dòng này.

Chỉ có điều, nếu được chọn lại, tôi mong mình sẽ khôn ngoan hơn, cẩn trọng hơn, bớt vấp ngã hơn và bớt làm phiền lòng Bề trên cũng như chị em hơn.

Nhìn lại hơn năm mươi năm đời tu, tôi càng xác tín rằng ơn gọi không phải là một quyết định của riêng mình. Đó là một hành trình trong đó Thiên Chúa âm thầm dẫn dắt qua từng biến cố, từng con người, từng thử thách và cả những điều tưởng như bế tắc.

Lời Chúa trở thành châm ngôn sống thích hợp nhất với tôi là:

“Lạy Chúa, này con xin đến để thực thi ý Chúa.” (Dt 10,7b)

Đó cũng chính là điều tôi đã nói với những người bạn ngoại giáo trong buổi tiễn tôi đi tu. Hôm ấy, mười mấy người bạn, mỗi người làm một món để đãi tôi. Các bạn hỏi:

“Tại sao Tâm đi tu?”

Tôi trả lời:

“Mình muốn đi tu để có thể hoàn toàn làm theo ý Chúa.”

Các bạn lại hỏi:

“Tâm yêu Chúa dữ vậy hả?”

Tôi chỉ biết mỉm cười và thưa trong lòng:

Vâng!

Bởi vì nhìn lại tất cả hành trình ấy, tôi nhận ra một điều thật đơn sơ mà sâu xa:

TÌNH YÊU ĐÁP ĐỀN TÌNH YÊU – ĐÓ LÀ ƠN GỌI CỦA TÔI.

Tạ ơn Chúa vì hồng ân Thanh Tẩy ngày 17.7.1971. Tạ ơn Chúa vì đã gieo vào lòng tôi ước nguyện dâng mình cho Ngài. Tạ ơn Chúa vì đã kiên nhẫn dẫn tôi qua những năm tháng chờ đợi, thử thách và cả những giọt nước mắt của Ba Má.

Và hôm nay, sau hơn năm mươi năm sống đời thánh hiến, tôi chỉ muốn lặp lại lời thưa ban đầu:

“Lạy Chúa, này con xin đến để thực thi ý Chúa.”

Clara Minh Tâm, SJP.